Sau thời Mạc Cửu đến thời Mạc Thiên Tứ (thế kỷ 18), đã có những bước chân đầu tiên dọc theo sông Cái Lớn, Cái Bé - nhưng mãi đến những đợt khai thác sau này, thì một phần lớn vùng đất thuộc tỉnh Hậu Giang hôm nay mới thật sự chuyển mình. Nếu trước 1897, khu vực huyện Giồng Riềng, Gò Quao, Long Mỹ (tỉnh Rạch Giá) mới chỉ có 2 tổng, không tới 10 thôn - thì đến năm 1939, riêng quận Long Mỹ có đến 3 tổng, 17 làng.
Tổng An Ninh gồm các làng: Hòa An, Hỏa Lựu, Long Bình, Vị Thủy, Vĩnh Thuận Đông và Vĩnh Tường. Tổng Thanh Tuyên với các làng: Lương Tâm, Thuận Hưng, Vĩnh Tuy, Vĩnh Viễn và Xà Phiên. Tổng Thanh Giang có các làng: An Lợi, Long Phú, Phương Bình, Phương Phú, Tân Long và Long Trị. Vùng đất thuộc huyện Vị Thủy ngày nay là xã Vị Đông, Vị Thanh (xưa thuộc quận Giồng Riềng).
Quận Phụng Hiệp, trước khi đào kinh chỉ ở phạm vi một vài làng, đến năm 1939, có đến 2 tổng, 14 làng. Tổng Định Hòa có các làng: Hòa Mỹ, Mỹ Phước, Tân Bình, Tân Hưng, Tân Lập, Thạnh Hưng, Thạnh Xuân, Trường Hưng. Tổng Định Phước có các làng: Đông Sơn, Như Lang, Phụng Hiệp, Long Mỹ, Thường Phước, Trường Thạnh Sơn.
Như vậy, vùng đất xưa chủ yếu là quận Long Mỹ (tỉnh Rạch Giá) và quận Phụng Hiệp (tỉnh Cần Thơ cũ), địa giới hành chính vẫn còn giữ cho đến suốt thời kỳ chống Pháp.
Sau hiệp định Geneve 1954, khi Pháp rút, Mỹ can thiệp ở niềm Nam, lập nên chế độ Ngô Đình Diệm, thì vùng đất Long Mỹ - Phụng Hiệp lại có nhiều thay đổi:
Khoảng 1960, quận Long Mỹ được chế độ cũ tách ra, thành lập 1 quận mới tên Đức Long. Hai quận đều trực thuộc tỉnh Phong Dinh, bao gồm các xã: Vị Thanh, Vị Thủy, Vĩnh Tường, Hỏa Lựu, Vị Đức, Hòa An (về sau bổ sung thêm 1 xã từ quận Giồng Riềng là Ngọc Hòa). Quận Đức Long đóng tại xã Hỏa Lựu, năm 1963 dời về xã Vị Thủy (chân cầu Nàng Mau), quá trình lập quận mới Đức Long - chính quyền Ngô Đình Diệm xây dựng hai khu trù mật: Vị Thanh – Hỏa Lựu, khánh thành vào ngày 1/3/1961.
Với ý đồ ngăn chặng lực lượng cách mạng từ cửa ngõ U Minh, siết chặt việc kiểm soát dân chúng, bảo vệ Cần Thơ và vùng 4 chiến thuật – Tổng thống chế độ ngụy Ngô Đình Diệm ký sắc lệnh thành lập tỉnh Chương Thiện ngày 21/12/1961. Sau đó, lễ khánh thành tỉnh Chương Thiện được
tổ chức trọng thể vào ngày 3/1/1962. Tỉnh Chương Thiện lúc này bao gồm 5 quận: Long Mỹ, Đức Long, Kiến Hưng (huyện Gò Quao, Kiên Giang ngày nay), quận Kiến Thiện (huyện Hồng Dân – Bạc Liêu ngày nay), quận Kiến Long (tức huyện Vĩnh Thuận – Kiên Giang ngày nay).
Thời chống Mỹ, về phía ta khu vực tỉnh Chương Thiện vẫn thuộc hai tỉnh Cần Thơ – Rạch Giá chỉ đạo. Quận Long Mỹ, thị xã Vị Thanh thuộc Cần Thơ, Gò Quao, Giồng Riềng, Vĩnh Thuận thuộc Kiên Giang.
Sau ngày giải phóng, địa giới hành chính vùng đất Long Mỹ - Vị Thanh có sự điều chỉnh: Lúc đầu thị xã Vị Thanh trực thuộc tỉnh Hậu Giang cũ (khoảng năm 1975 – 1977). Đến ngày 1/1/1978, thị xã Vị Thanh được ghép với huyện Long Mỹ, phần nội ô và vùng ven thị xã trở thành thị trấn Vị Thanh. Từ ngày 15/2/1982, huyện Long Mỹ lại tách ra thành hai huyện Vị Thanh, Long Mỹ. Ngày 1/1/1999, Chính phủ ký Nghị định số 45/CP thành lập thị xã Vị Thanh và đổi tên huyện Vị Thanh thành huyện Vị Thủy, tất cả đều thuộc tỉnh Cần Thơ.
Vùng đất nằm về phía Cần Thơ, sau ngày giải phóng vẫn giữ địa giới các huyện Phụng Hiệp, Châu Thành (huyện lỵ là thị trấn Cái Răng). Từ tháng 1/2001, huyện Châu Thành tách ra thành hai huyện: Châu Thành bao gồm các xã phía sông Hậu; Châu Thành A là các xã: Tân Thuận, Tân Hòa, Trường Long A, Nhơn Nghĩa A, Thạnh Xuân, Tân Phú Thạnh.
Đầu năm 2004, theo Nghị quyết của Quốc hội, TP Cần Thơ nâng cấp trực thuộc Trung ương và thành lập tỉnh Hậu Giang, với các huyện: Châu Thành, Châu Thành A, Long Mỹ, Phụng Hiệp, Vị Thủy và thị xã Vị Thanh. Đối với huyện Châu Thành (cũ), một phần sát với nội ô thành phố Cần Thơ được thành lập quận Cái Răng, một phần thuộc tỉnh Hậu Giang, mang tên huyện Châu Thành đặt huyện lỵ tại thị trấn Ngã Sáu cùng các xã: Phú Hữu, Phú Hữu A, Đông Phước, Đông Phước A, Phú An. Ranh giới Hậu Giang giáp với Cần Thơ ở các điểm: Phía gần sông Hậu là xã Đông Thạnh, giáp phường Thường Thạnh (Cái Chanh) và phường Ba Láng giới hạn ở đoạn Rạch Chiếc – Cầu số 10 (quận Cái Răng). Phần đất dọc theo kinh Xà No, bên Hậu Giang huyện Châu Thành A là xã Nhơn Nghĩa A, bên TP. Cần Thơ là xã Nhơn Nghĩa. Tháng 8/2005, huyện Phụng Hiệp được tác thành 2 đơn vị:
Thị xã Ngã Bảy tại khu vực quanh kinh Ngã Bảy với các phường: Ngã Bảy, Lái Hiếu, Hiệp Thành và các xã: Tân Thành, Đại Thành, Hiệp Lợi. Huyện Phụng Hiệp gồm các xã: Thạnh Hòa, Bình Thạnh, Hòa Mỹ, Tân Long, Long Thạnh, Phụng Hiệp, Hiệp Hưng, Tân Phước Hưng, Phương Phú, Hòa An, thị trấn Kinh Cùng, huyện lỵ đặt tại thị trấn Cây Dương.
Nếu kể từ thời Mạc thiên Tứ bước chân qua vùng sông Cái Lớn, Cái Bé vào nửa đầu thế kỷ thứ 18 dãy đất phía
Tây sông Hậu được khai thác gần 300 năm. Nếu tính từ các đợt khai thác lớn, những thập niên cuối thế kỷ 19 – thì một phần lớn vùng đất thuộc tỉnh Hậu Giang hôm nay, có quá trình hình thành và phát triển trên 100 năm. So sánh với nhiều nơi ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long, có lẽ đây là một trong những vùng đất trũng nhất, được khai thác sau cùng ở Nam kỳ Lục tỉnh. Tuy nhiên, dù là đất mới, nhưng Hậu Giang hôm nay cũng đã nhanh chóng đuổi kịp “các đàn anh” đi trước, với nhiều nét nổi bật về phát triển kinh tế; nhiều điểm sáng về văn hóa – văn minh, bao trang sử vàng trong mở đất, giữ đất và đấu tranh cách mạng qua các thời kỳ. Bề dày truyền thống đó luôn là nền tảng vững bền, để tỉnh Hậu Giang tiến bước đến tương lai.
Trích “Tìm hiểu Đất và Người Hậu Giang”
DÂN SỐ
Mật độ dân số của Hậu Giang tương đối dày, xấp xỉ 486 người/ km
2 (mật độ cả nước năm 2007 là 255 người/km
2). Dân số thường tập trung tại các chợ, ven lộ và ven sông để tiện việc đi lại, trao đổi, mua bán… trong đó, dân số thành thị (năm 2005) ước khoảng 15,2%, còn lại là nông thôn. Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên là 14,25%0. Dân số trong độ tuổi lao động chiếm khoảng gần 65%; trong đó, ở thành thị là 15,24%, còn lại là nông thôn. Tỷ lệ thất nghiệp trong độ tuổi khoảng 1,38%.
- Năm 2003: 767,4 trong đó, thành thị: 115,1; nông thôn: 652,3; nam: 376,7; nữ: 390,7.
- Năm 2004: 781,0 trong đó, thành thị: 119,0; nông thôn: 662,0; nam: 384,2; nữ: 396,8.
- Năm 2005: 789,6 trong đó, thành thị: 123,2; nông thôn: 666,4; nam: 387,6; nữ: 402,0.
- Năm 2006: 796.8 trong đó, thành thị: 132,0; nông thôn: 664,8; nam: 394,1; nữ: 402, 7.
- Năm 2007: 802,7 trong đó, thành thị: 159,3; nông thôn: 643,4; nam: 397, 4; nữ: 405, 3.
- Năm 2008: 808, 0 trong đó, thành thị: 161,4; nông thôn: 646,6; nam 398,7, nữ 409,3.
Cổng thông tin điện tử tỉnh Hậu Giang - HAUGIANG PORTAL;
Niên giám Thống kê năm 2008