Chủ nhật, ngày 05 tháng 02 năm 2012.
 
Tiếng Việt | English
Tổng quan Ban tổ chức Hội thảo - Hội thi Nhật ký Festival Đất & Người Hậu Giang Bên lề Festival Dịch vụ Nhà tài trợ Thư viện
Cây lúa Việt Nam



Việt Nam - Cái nôi của nền văn minh lúa nước


Từ ngàn đời nay, cây lúa đã gắn bó với con người, làng quê Việt Nam, đồng thời cũng trở thành tên gọi cho một nền văn minh - nền văn minh lúa nước.


Cây lúa không chỉ mang lại sự no đủ mà còn trở thành một nét đẹp trong đời sống văn hoá tinh thần của người Việt. Hạt lúa và người nông dân cần cù, mộc mạc là mảng màu không thể thiếu trong bức tranh của làng quê Việt Nam bây giờ và mãi mãi sau này. Tuy nhiên, cùng với sự phát triển của khoa học kỹ thuật, cây lúa cũng đang có những biến đổi để thích ứng với nhu cầu thực tế. Chính vì vậy, cần phải bảo tồn và phát triển, làm phong phú thêm nguồn gen thực vật quý giá này.

Là cây trồng quan trọng nhất thuộc nhóm ngũ cốc, lúa cũng là cây lương thực chính của người dân Việt Nam nói riêng và người dân châu Á nói chung. Cây lúa, hạt gạo đã trở nên thân thuộc gần gũi đến mức từ bao đời nay người dân Việt Nam coi đó là một phần không thể thiếu trong cuộc sống. Từ những bữa cơm đơn giản đến các bữa tiệc sang trọng, không thể thiếu sự góp mặt của hạt lúa, chỉ có điều, nó được chế biến dưới dạng này hoặc dạng khác.

Không chỉ giữ vai trò to lớn trong đời sống kinh tế, xã hội mà còn có giá trị lịch sử, bởi lịch sử phát triển của cây lúa gắn với lịch sử phát triển của cả dân tộc Việt Nam, in dấu ấn trong từng thời kỳ thăng trầm của đất nước. Trước đây, cây lúa, hạt gạo chỉ có thể đem lại sự no đủ cho con người thì ngày nay nó còn có thể làm giàu cho người nông dân và cho cả đất nước nếu chúng ta biết biến nó thành một thứ hàng hoá có giá trị.

Nghề trồng lúa nước ở nước ta xuất hiện rất sớm, từ nền văn hóa Hòa Bình, theo giáo sư Bùi Huy Đáp, Việt Nam là một trong những trung tâm lúa nước sớm nhất tại các nước Đông Nam Á và vẫn còn lưu lại dấu tích trong các loại lúa dại ở Mường Thanh, di chỉ Xóm Trại... Rồi Lạc điền, Lạc dân canh tác theo thủy triều lên xuống trên ruộng Lạc thời Hùng Vương. Khảo cổ học cũng phát hiện các công trình tưới nước tự chảy ở Gio Linh (Quảng Trị) thời kỳ đá mới, những công cụ như rìu đồng, lưỡi cày đồng (Thanh Hóa, Sơn Tây), lưỡi hái (Gò Mun)... liên quan đến nghề trồng lúa thời kỳ Văn Lang... Các chức quan Hà đê sứ, Khuyến nông sứ thời nhà Lê, “Chiếu khuyến nông” của vua Quang Trung, dưới triều Nguyễn việc Nguyễn Văn Thoại đào kênh Vĩnh Tế... đều xuất phát từ những chủ trương mở rộng và canh tân nghề trồng lúa ở nước ta. Đi dần về phương Nam, Lê Quý Đôn từng viết “Người Nam Giao tiếp xúc với người Chiêm Thành nên trồng được nhiều thứ lúa...”. Giáo sư Bùi Huy Đáp kết luận: “Suốt 4000 năm lịch sử, các công trình đắp đê phòng lụt, đào kênh ngòi, xây dựng mương máng tưới tiêu... phục vụ có hiệu quả cho việc mở rộng ruộng lúa từ châu thổ sông Hồng, miền Trung đến châu thổ sông Cửu Long... đã biến các đồng bằng thành những cánh đồng lúa lớn”.

Việt Nam là cái nôi của nền văn minh lúa nước, hạt gạo gắn liền với sự phát triển dân tộc và việc sản xuất lúa gạo cho đến nay vẫn là nền kinh tế chủ yếu của đất nước. Nếu trên trái đất, diện tích đất trồng lúa chiếm 11% thì tại Việt Nam khắp nơi đều trồng lúa, nhất là ở các miền đồng bằng và trên thế giới số người được sống bằng lúa gạo là 50% thì tại Việt Nam là 100%. Trên thực tế, việc sản xuất ra lúa gạo là một hoạt động kinh tế đứng hàng đầu. Những cánh đồng lúa trải dài từ khắp miền núi, đồng bằng đến cao nguyên, hình thành nên nhiều vùng thâm canh cây lúa. Những vựa lúa lớn của nước Việt Nam cả về diện tích, sản lượng và chất lượng có thể kể đến như đồng bằng sông Hồng thuộc khu vực phía bắc, đồng bằng sông Cửu Long - đồng bằng Nam Bộ...

Đồng bằng sông Hồng - một nền văn minh lúa nước đã hình thành từ nghìn năm, gồm 11 tỉnh thành với diện tích tự nhiên khoảng 15.000 km2 được bồi tụ bởi phù sa của hai con sông lớn là sông Hồng và sông Thái Bình. Ðây là địa bàn cư trú của người Việt cổ, cũng là nơi hình thành nền văn minh lúa nước. Vùng lúa đồng bằng sông Hồng (ĐBSH) đang có những biến đổi tích cực bước đầu nhằm đáp ứng nhu cầu thị trường. Nếu như trước đây, sản xuất lúa ở ĐBSH chú trọng phát triển đáp ứng nhu cầu về số lượng, thì nay nhu cầu không còn là mục tiêu duy nhất. Chính sự đòi hỏi về chất lượng của người tiêu dùng trong nước cũng như khả năng tham gia xuất khẩu, đang tạo ra những đổi thay ở vựa lúa lớn của các tỉnh phía Bắc.

Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) rộng khoảng 36.000 km2, là vùng đất phì nhiêu, khí hậu thuận lợi. Đây là vựa lúa lớn nhất của Việt Nam, ngành kinh tế quan trọng nhất là sản xuất lúa gạo, đặc biệt là gạo chất lượng cao để xuất khẩu. Mặc dù chỉ chiếm 12% diện tích cả nước, ĐBSCL là nơi cư ngụ của 22% dân số cả nước, cung cấp 40% tổng sản lượng lương thực cả nước, và hơn một nửa sản lượng gạo cũng như tổng lượng gạo xuất khẩu được làm ra ở đây. Sản xuất lúa vẫn tiếp tục khẳng định là một ngành sản xuất hàng hóa quan trọng và ngày càng có sức cạnh tranh cao. Cây lúa tuy giảm diện tích, nhưng đang được các bộ, ngành, địa phương và nông dân mạnh dạn đưa nhanh các giống mới như IR64, OM1490, OSMC2000, ST3, HG2... cho năng suất và chất lượng cao bảo đảm an ninh lương thực quốc gia.

Trong những năm gần đây, cây lúa ngày càng khẳng định được vị thế của mình trong sự phát triển của đất nước. Việt Nam từ một nước đói nghèo đã trở thành một nước đứng thứ 2 trên thế giới, sau Thái Lan về xuất khẩu gạo.

Từ năm 1985, Nhà nước đã có những chương trình lớn về quỹ gen, hàng năm đầu tư từ 3-4 tỷ đồng cho chương trình quỹ gen cây trồng, vật nuôi và vi sinh. Trong đó, đặc biệt coi trọng việc nghiên cứu về quỹ gen cây lúa. Chương trình quốc gia này đã tạo thành được một màng lưới duy trì và bảo tồn các nguồn gen quý, đồng thời song song tiến hành các hoạt động nghiên cứu lai tạo nhiều giống mới.

Cho đến nay, đã có gần 30 giống lúa được công nhận là giống quốc gia. Có những giống lúa thịnh hành từ những năm 1970 và những giống mới được công nhận trong những năm gần đây. Đây là những giống có năng suất cao, chất lượng tốt và được tạo nên từ công sức của tập thể các nhà khoa học tâm huyết. Nhờ có tiến bộ khoa học, nhiều loại lúa mới ra đời.

(Tổng hợp)

Nguồn: - Lịch sử cây lúa Việt Nam.
- P/s của Minh Oanh – Báo Hà Nội mới.
- P/s của Cao Điện Thắng – Báo Quảng Nam.


Quay lại     Thêm vào danh sách ưa thích     Gửi bạn bè     In ấn


  • CÁC TIN MỚI HƠN
  •  

  • Giống lúa Hậu Giang 2


  • CÁC TIN CŨ HƠN
  •  

  • Đặc tính các giống lúa đang được ưa chuộng tại ĐBSCL

    Các tin khác

     



    Đặc tính các giống lúa đang được ưa chuộng tại ĐBSCL



    Giống lúa Hậu Giang 2















    VITV



    Trang chủ   |   Tổng quan   |   Ban tổ chức   |   Hội thảo - Hội thi   |   Nhật ký Festival   |   Đất & Người Hậu Giang   |   Bên lề Festival   |   Dịch vụ   |   Nhà tài trợ   |   Thư viện   |   Liên hệ
    © 2009 Festival Lúa Gạo Việt Nam
    Ghi rõ nguồn www.festivalluagao.vn khi phát hành thông tin từ website này
    Mọi chi tiết xin vui lòng liên hệ info@festivalluagao.vn
    Có 30 người đang truy cập. Tổng số lượt truy cập: 1.269.694